BÁO CÁO NĂNG LỰC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015

Thực hiện công văn số 1956/SL-ĐTBXH-DN ngày 14 tháng 12 năm 2015 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hải phòng về việc “ Rà soát bổ sung Quyết định sô 1342/QĐ-UBND ngày 8/10/2010 của UBND thành phố phê duyệt Đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn thành phố Hải Phòng đến năm 2020”. Trung tâm dạy nghề Hội LHPN Hải Phòng xin báo cáo như sau:
1. Khái quát chung
Trung tâm dạy nghề Hội LHPN Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 1224/QĐ-TCCQ ngày 03/11/1992 của UBND Thành phố Hải Phòng.
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động nghề số 21/GCNĐKDN ngày 18/01/2011; số 363/GCNĐKDN ngày 10/4/2013; số 443/CNĐKHĐDN ngày 07/4/2014.
Địa chỉ : số 23 Minh Khai – Hồng Bàng – Hải Phòng.
Điện thoại : 0313.842146 Fax : 0313.821166
Email: daynghephunuhp@gmail.com
Ngành nghề đào tạo hiện nay: Kỹ Thuật chế biến món ăn, Nghiệp vụ khách sạn, Pha chế đồ uống, Kỹ thuật làm bánh Âu – Á, May công nghiệp, Cắm hoa nghệ thuật, Kỹ thuật móc chỉ, Kỹ thuật mây tre đan, Chăm sóc sắc đẹp…
Đội ngũ giáo viên có trình độ tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình công tác, có tinh thần học tập nâng cao trình độ và nghiệp vụ sư phạm.
Trung tâm dạy nghề và Hội LHPN các Quận, huyện phối hợp nhịp nhàng thực hiện chương trình đào tạo nghề, giới thiệu việc làm.
2. Báo cáo, đánh giá kết quả đào tạo nghề của lao động nông thôn:
2.1 Công tác khảo sát nhu cầu học nghề của lao động nông thôn
Những năm gần đây nghề sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, đất đai sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp do đô thị hoá nên nhiều người dân lao động chuyển đổi dần sang làm dịch vụ du lịch, nấu ăn, may công nghiệp…Từ yếu tố trên, đơn vị phối hợp với Hội LHPN các Quận, huyện nắm bắt nguồn nhân lực trên địa bàn, xác định nhu cầu học nghề của lao động nông thôn theo từng nghề, làm cơ sở xây dựng kế hoạch và triển khai đào tạo nghề cho https://www.viagrapascherfr.com/viagra-generique-pas-cher-cialis/ lao động nông thôn sát, đúng tình hình thực tế địa phương.
Hàng năm trung tâm khảo sát, xác định nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, các cơ sở dịch vụ, Hội Liên hiệp phụ nữ trên địa bàn các huyện, thị xã và phân tích nhu cầu thiếu hụt lao động trong các khu công nghiệp ngoài địa bàn từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của địa phương.
Công tác tuyển sinh, tư vấn học nghề, việc làm
Để làm tốt công tác tuyển sinh, trung tâm đã phối hợp với các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn, xây dựng đội ngũ cộng tác viên tuyển sinh với các thôn xóm, tuyên truyền trên hệ thống đài phát thanh huyện, xã.
Gửi thông báo tuyển sinh tới các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn cùng với việc tuyên truyền Quyết định 1956/QĐ-TTg và các văn bản pháp luật liên quan về dạy nghề, việc làm cho lao động nông thôn đồng thời nhân rộng, biểu dương các điển hình đối với những người có nhiều đóng góp công tác dạy nghề cho lao động nông thôn.
Các cộng tác viên căn cứ độ tuổi, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình để tư vấn cho đối tượng học nghề phù hợp với khả năng của mình để đảm bảo sau khi được đào tạo nghề có khả năng mưu sinh bằng nghề nghiệp mình đã được đào tạo.
Qua thông tin khảo sát nhu cầu tuyển dụng lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất dịch vụ trên địa bàn quận, đơn vị đã ký các hợp đồng đào tạo, ký cam kết tuyển dụng lao động để tạo việc làm cho người lao động sau đào tạo.
-Tổ chức, quản lý lớp học
Sau khi đã làm tốt công tác tuyển sinh và giới thiệu việc làm sau đào tạo, trung tâm triển khai tổ chức lớp theo đúng yêu cầu học nghề và quy mô lớp học, bố trí đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn tham gia giảng dạy. Kiểm tra chương trình theo đúng mô đun nghề đã đăng ký.
Cử cán bộ làm công tác quản lý thường xuyên theo dõi các lớp học, nắm bắt và giải quyết kịp thời biến động trong quá trình học tập
Việc đảm bảo điều kiện thực hiện các hoạt động đào tạo
Để đảm bảo thực hiện các hoạt động đào tạo nghề cần rất nhiều yếu tố. Đào tạo một nghề ngắn hạn thời gian 03 tháng, trong đó 1/3 giờ học lý thuyết, 2/3 giờ học thực hành. Để đảm bảo đúng tiến độ học và đủ mô đun chương trình, đơn vị lập kế hoạch đào tạo, thời gian học và cử cán bộ giám sát chặt chẽ giờ lên lớp của giáo viên, động viên khuyến khích học viên tham gia đến lớp. Tuỳ theo tính đặc thù của từng ngành nghề mà đơn vị có kế hoạch đào tạo kịp thời trước khi người lao động bắt tay vào sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ…..
Theo dõi kết quả tạo việc làm, thu nhập sau đào tạo
Sau đào tạo, học viên đưa kiến thức đã học ứng dụng trong công việc
Số lao động nông thôn tự tạo việc làm khoảng 20% có thu nhập từ 2.5- 3 triệu đồng/tháng
Số lao động nông thôn được các doanh nghiệp sử dụng khoảng 80% có thu nhập từ 2,5-3 triệu đồng/tháng
2.2 Sự phối hợp với các cấp, ngành, tổ chức đoàn thể, cơ sở dạy nghề khác
Thực hiện ý kiến chỉ đạo Ban Thường vụ Hội LHPN Thành phố một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ thành phố lần thứ XI chú trọng các vấn đề ưu tiên trong đó có Đề án “ Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm”.
Trung tâm dạy nghề và Hội LHPN các Quận, huyện phối hợp nhịp nhàng thực hiện chương trình đào tạo nghề, khảo sát nhu cầu học nghề, tuyển sinh, tư vấn học nghề và việc làm sau đào tạo.
Trong thời gian tới trung tâm sẽ mở rộng hợp tác, tìm đối tác có nhu cầu tuyển dụng để giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn học nghề nhằm giúp người lao động có thu nhập, nâng cao đời sống người lao động góp phần đảm bảo an sinh xã hội địa phương.
2.3 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ năm 2011 đến năm 2015

2016-05-06_162249
* Kết quả tư vấn việc làm, giải quyết việc làm sau đào tạo từ năm 2010 đến nay
+ 100% các ngành nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu học nghề của lao động nông thôn.
+ Số lao động có việc làm sau học nghề 604/755 đạt 80,1%
Trong đó:
+ Số lao động nông thôn tự tạo việc làm khoảng 20-25%
+Số lao động nông thôn được các doanh nghiệp sử dụng khoảng 75 – 80%
* Các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn có hiệu quả, những thuận lợi, khó khăn khi triển khai mô hình:
Một số mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn có hiệu quả như:
+ Mô hình dạy nghề Kỹ thuật móc chỉ
+ Mô hình dạy nghề Kỹ thuật chế biến món ăn
+ Mô hình dạy nghề Cắm hoa nghệ thuật
Khi triển khai mô hình dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn có những thuận lợi, khó khăn sau:
2.4. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện
a.Thuận lợi:
– Việc triển khai thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội trong việc triển khai thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
– Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn triển khai thực hiện bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, đã giúp cho lao động nông thôn có cơ hội tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề, có công ăn việc làm ổn định tăng thu nhập, đảm bảo cuộc sống, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện tốt chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo của Đảng và Nhà nước; tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế– xã hội địa phương phát triển, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
– Có sự phối hợp chặt chẽ trong hệ thống Hội trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người tham gia học nghề. Khảo sát nhu cầu học nghề, tư vấn học nghề và việc làm cho người lao động, tuyển sinh và hướng dẫn hồ sơ học nghề. Phối hợp trong việc quản lý và kiểm tra giám sát các lớp học nghề góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
b.Khó khăn:
– Tuy nhiên trong quá trình tiếp cận người học cũng gặp không ít những khó khăn. Người học chưa có nhận thức sâu sắc trong quá trình xác định nghề nghiệp. Vẫn còn tư tưởng làm việc tự do, có kinh phí ngay. Không muốn học nghề vì cho rằng thời gian học dài, việc nghỉ tự do vẫn diễn ra thường xuyên. Chính vì vậy trong công tác quản lý đào tạo gặp không ít những khó khăn.
– Một số đơn vị quận, huyện việc xác nhận danh sách học viên tham gia học nghề còn gặp nhiều khó khăn.
– Đối tượng học nghề là lao động nông thôn trình độ văn hóa và nhận thức hạn chế việc tiếp thu kiến thức gặp khó khăn, ý thức của người học chưa cao, việc rèn luyện tác phong công nghiệp còn hạn chế.
– Mức kinh phí đào tạo như hiện nay quá thấp trong khi Trung tâm phải tính chi phí về công tác tuyển sinh, hỗ trợ giáo viên giảng dạy, vận chuyển trang thiết bị, thuê người trông coi xe, vệ sinh, điện, nước, nguyên vật liệu học tập…. việc phân bổ kinh phí đào tạo còn chậm. Do vậy đã ảnh hưởng nhiều đến quá trình triển khai nhiệm vụ và chất lượng đào tạo.
– Thủ tục hồ sơ mở lớp quá nhiều, một số yêu cầu phải thực hiện ngay rất khó cho Trung tâm. Khâu kiểm tra, thẩm định hồ sơ còn chậm, gây mất nhiều thời gian và ảnh hưởng đến kế hoạch tiến độ đào tạo của Trung tâm cũng như tiến độ chung của thành phố đề ra.
3.Kiến nghị, đề xuất:
– Đề nghị Sở Lao động thương binh và Xã hội, Sở Tài chính Hải Phòng hàng năm tổ chức tập huấn cho các cán bộ quản lý, giáo viên, cán bộ tuyển sinh, kế toán các đơn vị thụ hưởng kinh phí Đề án;
– Lực lượng lao động nông thôn hiện nay còn rất nhiều người chưa được qua đào tạo nhưng việc áp dụng các công nghệ và khoa học vào lĩnh vực lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp đòi hỏi ngày càng cao vì vậy UBND thành phố và Sở Lao động Thương binh và Xã hội tiếp tục triển khai đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn thành phố Hải Phòng đến năm 2020”
– Đề nghị tăng kinh phí hỗ trợ học nghề mức tối thiểu 1.500.000đ/người/khóa, tăng mức hỗ trợ cho đối tượng hộ nghèo tham gia học nghề.
– Có kế hoạch triển khai, giao chỉ tiêu ngay từ đầu năm để công tác tuyên truyền, vận động tuyển sinh đến từng hộ gia đình có nhu cầu học nghề được sâu rộng đảm bảo đúng đối tượng và tiến độ đào tạo.
– Thời gian thẩm định hồ sơ mở lớp và quyết toán kinh phí nên rút ngắn; có kế hoạch tập huấn, hướng dẫn thống nhất các loại văn bản, giấy tờ liên quan ngay từ ban đầu để các đơn vị chuẩn bị đầy đủ, tránh tình trạng phải làm lại nhiều lần.
Trên đây là báo cáo, đánh giá về công tác đào tạo nghề thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” giai đoạn 2011-2015 của Trung tâm dạy nghề Hội LHPN Hải Phòng. Kính mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Sở LĐTB&XH và các sở, ban, ngành thành phố để công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn (2016 – 2020) đạt kết quả cao hơn.

 

 

You may also like...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *